Những nội dung chính về “Dịch vụ môi trường rừng” theo Luật Lâm nghiệp 2017

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã có hiệu lực trên phạm vi cả nước từ 01/01/2011 theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ và sau hơn 5 năm triển khai thực hiện, chính sách chi trả DVMTR đã khẳng định hướng đi đúng đắn, mang lại những hiệu quả nhất định, góp phần cải thiện sinh kế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người làm nghề rừng và đồng bào các dân tộc ở các vùng miền núi, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu và thích ứng biến đổi khí hậu.Hiện nay, Luật Lâm nghiệp ra đời thay thế Luật bảo vệ và phát triển rừng thì các quy định về dịch vụ môi trường rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được thể hiện đầy đủ và hiệu quả, cụ thể:
Các loại dịch vụ môi trường rừng.
Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh; bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng cho kinh doanh dịch vụ du lịch; cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước từ rừng và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng để nuôi trồng thủy sản.
Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng
Rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng khi đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật Lâm nghiệp và cung ứng một hoặc một số dịch vụ môi trường rừng quy định tại Điều 61 của Luật Lâm nghiệp; Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp; Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng; Bảo đảm công khai, dân chủ, khách quan, công bằng và phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Đối tượng, hình thức chi trả và quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng
Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm:
Chủ rừng được quy định tại Điều 8 của Luật Lâm nghiệp;
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành lập;
Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật.
Đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bao gồm:
 Cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện; Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch; Cơ sở sản xuất công nghiệp phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất công nghiệp; Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng; Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn phải chi trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; Cơ sở nuôi trồng thủy sản phải chi trả tiền dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng cho nuôi trồng thủy sản và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
Hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng:
Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; Bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng; Nhà nước khuyến khích áp dụng chi trả trực tiếp cho tất cả các trường hợp nếu bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng tự thỏa thuận trên cơ sở mức tiền chi trả dịch vụ do Chính phủ quy định.
Việc quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng được thực hiện khi:
Xác định tổng số tiền thu được từ dịch vụ môi trường rừng; Xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; Xác định đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng; Xác định hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng; Lập kế hoạch thu, chi dịch vụ môi trường rừng; Xác định trường hợp được miễn, giảm nộp tiền dịch vụ môi trường rừng; Tổ chức chi trả dịch vụ môi trường rừng; Kiểm tra, giám sát quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Chi tiết về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ do Chính phủ quy định. Quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng cũng được quy định cụ thể trong Luật Lâm nghiệp 2017.
Nhằm giúp cho người dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là những người dân sống gần rừng, ven rừng hiểu được chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, qua đó biết được các giá trị của rừng, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xây dựng và ban hành kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, nâng cao năng lực thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đến người dân trong vùng được hưởng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh từ ngày 14 đến ngày 22 tháng 12 năm 2020

Tác giả bài viết: Hoàng Nhung

Nguồn tin: Chi cục Kiểm lâm